Biện pháp rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1 khi học môn Tiếng Việt
Ngày đăng: 23/03/2025 07:02
Ngày đăng: 23/03/2025 07:02
1. Lý do chọn đề tài:
Trong hệ thống giáo dục, bậc tiểu học đóng vai trò là tiền đề, là nền tảng. Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ rất quan trọng, hình thành phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh, được thể hiện trong 4 hoạt động với 4 kĩ năng: nghe - nói - đọc - viết. Trong đó, kĩ năng nói, nói như thế nào là đủ, diễn đạt như thế nào là hay trong chương trình mới 2018. Cũng góp phần quan trọng để hoàn thành tốt môn học. Bên cạnh những thành công còn có nhiều hạn chế là học sinh của chúng ta chưa nói đủ câu, hoặc thậm chí không dám nói, các em chưa nắm được công cụ để lĩnh hội được tri thức, tư tưởng, tình cảm của người khác chứa đựng trong mỗi chủ đề cần luyện nói. Nên việc dạy luyện nói cho học sinh tiểu học, nhất là học sinh lớp 1 phải có định hướng, có kế hoạch ngay từ buổi đầu.
Việc dạy luyện nói cho lớp 1 cũng quan trọng bởi từ chỗ các em còn phải đánh vần từng tiếng mà mới tiếp xúc với môi trường mới nên việc nói đúng, tròn câu là việc tương đối khó với các em, ngày nay mục tiêu của giờ dạy Tiếng Việt là để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các kĩ năng giao tiếp và hướng đến học sinh yêu Tiếng Việt, bằng cách nêu bật biểu đạt của Tiếng Việt, sự giàu đẹp của âm thanh, sự phong phú của ngữ điệu trong việc diễn đạt nội dung của từng chủ đề. Thế nhưng hiện nay, ở trường Tiểu học, mặt âm thanh của ngôn ngữ, đặc biệt ngữ điệu chưa được chú ý đúng mức. Đó là một trong những lý do học sinh của chúng ta thiếu tự tin khi nói và ngại giao tiếp. Vì thế cần rèn cho học sinh không những chỉ nói theo câu nói, mà còn phải nói sao cho đủ câu, diễn đạt cho rõ ràng và đúng theo nội dung chủ đề.
Ở lớp 1 các em bắt đầu làm quen với: Nghe, nói, đọc, viết. Và kỹ năng nói rất quan trọng, nếu kỹ năng nói được rèn luyện tốt sẽ giúp các em lĩnh hội được ngôn ngữ để sử dụng trong giao tiếp và hoạt động học tập. Là điều kiện để cho học sinh có khả năng tự học, giúp các em phát triển tư duy, cảm nhận cái hay, cái đẹp trong mỗi bài học, hiểu được nghĩa của tiếng, từ mình vừa học, hiểu được các lệnh các yêu cầu trong các môn học khác. Trong quá trình dạy học luyện nói giáo viên có sự định hướng về nội dung và phương pháp dạy học nhằm đạt được mục tiêu dạy học đề ra. Đó là nhằm phát triển lời nói cho từng cá nhân học sinh. Vì vậy, đòi hỏi giáo viên cần biết chuyển nội dung dạy học thành những tình huống giao tiếp gần gũi, giúp học sinh vận dụng kinh nghiệm của mình thực hiện hoạt động giao tiếp. Từ đó học sinh sẽ có kỹ năng giao tiếp và tất nhiên sẽ phát triển được lời nói cho các em.
Từ những điều đã phân tích ở trên cho thấy rèn cho học sinh nói đủ câu và diễn đạt rõ ràng ngay từ lớp 1 là vô cùng quan trọng và đặt lên hàng đầu và là yếu tố cơ bản của dạy học môn Tiếng Việt chương trình mới 2018. Chính vì thấy rõ được tầm quan trọng của việc này, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài : “Biện pháp rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1 khi học môn Tiếng Việt”. Giúp các em giữ gìn và phát huy sự trong sáng của Tiếng Việt qua ngôn ngữ nói. Thể hiện tình yêu đất nước, tinh thần đoàn kết các em trong lớp học, trường học cũng như góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.
2. Mục đích đề tài:
Tôi nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm này để học sinh có thể nói chuẩn và nói đúng chủ đề, thông qua hoạt động nói các em sẽ phát huy được vốn ngôn ngữ Tiếng việt, nói đúng cấu trúc ngữ pháp, mở rộng thêm vốn từ, làm cơ sở cho việc tiếp thu tri thức sau này của học sinh Tiểu học. Giúp các em giữ gìn và phát huy sự trong sáng của Tiếng việt qua ngôn ngữ nói, tự tin trong giao tiếp và phát huy khả năng học Tiếng Việt để từ đó tiếp thu tốt các môn học khác. Nhằm để góp phần cho việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh ngay từ khi bước vào lớp 1. Và nâng cao chất lượng luyện nói cho học sinh tiểu học nói chung.
3. Lịch sử đề tài:
Từ những đổi mới của chương trình tiểu học, đòi hỏi phải đổi mới chương trình môn Tiếng Việt. Chương trình Tiểu học thực hiện đổi mới đồng bộ. Sách giáo khoa Tiếng Việt 1 tạo điều kiện để giáo viên tổ chức dạy học và phát triển các kĩ năng ngôn ngữ cho học sinh như thị giác, thính giác, xúc giác từ đó để học sinh tiếp thu kiến thức và phát triển các kĩ năng có hiệu quả hơn. Theo đặc trưng của môn Tiếng việt tập trung vào sự hình thành và phát triển kĩ năng: Nghe - đọc - nói - viết, góp phần vào quá trình hình thành các giá trị mới như: Năng lực tự học, tự phát hiện và giải quyết vấn đề, tự chiếm lĩnh kiến thức và thực hành vận dụng kiến thức đó theo năng lực bản thân.
Qua quá trình dạy học tôi đã đúc kết một số kinh nghiệm: là một giáo viên dạy lớp 1, đây là lớp học khó khăn vất vả nhất ở cấp tiểu học, vì vậy tôi luôn chú trọng đến việc rèn luyện các kĩ năng học Tiếng Việt cho các em bởi đây là tiền đề cho các em học tập các môn học khác tốt hơn. Năm học (2020-2021) sách Tiếng việt đã thay đổi hoàn toàn hình thức cũng như nội dung dạy học. Cụ thể, mỗi bài học học sinh phải thực hiện theo nội dung của từng chủ đề: Đọc, viết, nói và nghe. Mà thời lượng học trong 2 tiết, điều này cho thấy đôi khi giáo viên còn xem nhẹ hoạt động luyện nói, chỉ chú trọng cho hoạt động đọc, viết. Thời gian luyện nói ít, nhiều khi luyện nói chỉ mang tính hình thức, ít học sinh được nói.
Muốn có chất lượng trong giờ dạy tốt thì việc đầu tiên người giáo viên phải xây dựng được kế hoạch bài dạy dài hạn và theo từng chủ đề, từng bài theo hướng đổi mới. Vậy muốn cho học sinh nói tốt, trước hết người giáo viên phải nắm được vai trò của việc luyện nói cũng như kĩ năng nói, người giáo viên chủ nhiệm phải biết xây dựng kế hoạch lâu dài và ngắn hạn phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của học sinh địa phương.
Trong chương trình tiểu học, các bài của lớp 1 đã được chọn lọc kĩ càng. Được sắp xếp theo từng chủ đề, nội dung cung cấp, bồi dưỡng cho các em lòng yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu người lao đông, yêu người thân, ... ở xung quanh các em.
Bản thân tôi là một giáo viên Tiểu học đã trực tiếp dạy lớp 1 trong chương trình mới này, tôi thấy được quá trình dạy nói đúng, diễn đạt rõ ràng cho học sinh Tiểu học là cũng quan trọng. Bởi vì các em đều là học sinh mới bắt đầu đến trường, việc làm quen với các con số và mặt chữ còn khó khăn thì việc đòi hỏi các em phải giao tiếp thì càng khó. Nhưng nếu được quan tâm rèn luyện hằng ngày thì các em dần dần sẽ làm được.
4. Phạm vi đề tài:
Đề tài tập trung nghiêm cứu một số biện pháp rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh lớp 1 trong chương trình mới, để thực hiện tốt yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh làm cho giờ học “Nhẹ nhàng hơn, tự nhiên hơn, chất lượng hơn”. Tôi đã tìm tòi, nghiên cứu tài liệu và áp dụng một vài biện pháp dạy - học nhằm để nâng cao nâng cao chất lượng dạy môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1.
1. Thực trạng:
Đầu năm (2023 – 2024), tôi được phân công phụ trách lớp 1/1 với 20 học sinh. Hầu hết 20 học sinh của lớp 1/1 tôi chủ nhiệm mới chuyển từ mẫu giáo lên. Các em thay đổi môi trường học tập, phương pháp học tập nên còn bỡ ngỡ. Ở mẫu giáo các em được chơi là chính nên khi lên lớp 1 nhiều học sinh chưa tự giác trong học tập. Đa số các em chưa chăm học, ngại nói, chưa hứng thú với việc luyện nói và giao tiếp do chưa biết cách học. Trong quá trình giao tiếp ở nhà, các em thường có thói quen nói không đủ câu, không đủ ý. Khi được hỏi, các em chỉ trả lời trống không, không biết trả lời thế là chưa đủ câu. Một số chủ đề lạ, chưa thật sự gần gũi với cuộc sống của các em như: ruộng bậc thang, thung lũng, suối, đèo, lễ hội, vó bè, đồi núi… nên các em khó hình dung để phát huy khả năng nói của mình một cách phong phú. Thời lượng dành cho phần luyện nói còn ít nên học sinh không được luyện nói nhiều. Qua khảo sát chất lượng đầu năm học này, đã có 62,5% học sinh còn rụt rè, nhút nhát, ít phát biểu, chưa tự tin trong luyện nói.
Đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh còn ngại khi nói dẫn đến tiết học không đạt yêu cầu ? Qua quá trình giảng dạy lớp 1, tôi nhận thấy học sinh học hạn chế việc phát huy luyện nói là do nhiều nguyên nhân.
- Về phía giáo viên:
+ Đa số giáo viên khối lớp 1 rất ngại dạy các tiết học vần tiết 2 vì trong các tiết 2 thường có hoạt động luyện nói cho học sinh.
+ Nhiều giáo viên còn xem nhẹ hoạt động luyện nói, chỉ chú trọng cho hoạt động đọc, viết. Thời gian luyện nói ít, nhiều khi luyện nói chỉ mang tính hình thức, ít học sinh được nói. Giáo viên ít đầu tư cho các tiết 2 của tiết học vần mới, tiết luyện đọc.
+ Ngại chuẩn bị tranh ảnh, đồ dùng dạy học. Giáo viên hướng dẫn học sinh luyện nói theo tranh còn sơ sài. Hoặc đôi khi đi quá xa dễ lẫn sang như dạy học đạo đức hay tự nhiên xã hội.
+ Giáo viên chưa tập trung tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lý, môi trường sống của học sinh, chưa thật sự thông cảm với những khó khăn mà học sinh gặp phải nên khi tiến hành hỏi đáp chỉ yêu cầu những học sinh nói hay hoặc hay nói trả lời. Không mấy quan tâm đến những học sinh ít nói, nghèo nàn về ngôn ngữ, nói ngọng vì sợ gọi những em này trả lời sẽ làm mất nhiều thời gian.
+ Chưa sáng tạo, linh hoạt, chưa biết kết hợp nhiều phương pháp dạy học trong quá trình lên lớp và điều chỉnh những nội dung cần thiết, phù hợp để phần luyện nói đạt kết quả tốt.
+ Đồ dùng dạy học dành cho phần luyện nói còn chưa phong phú, chưa phù hợp, sơ sài chủ yếu dựa vào tranh trong sách giáo khoa.
- Về phía học sinh:
+ Thời lượng dành cho phần luyện nói còn ít nên học sinh không được luyện nói nhiều.
+ Một số chủ đề lạ, chưa thật sự gần gũi với cuộc sống của các em như: ruộng bậc thang, thung lũng, suối, đèo, lễ hội, vó bè, đồi núi… nên các em khó hình dung để phát huy khả năng nói của mình một cách phong phú.
+ Chưa chú ý lắng nghe khi giáo viên nêu yêu cầu đến lúc trình bày thường câu trả lời không đúng mục đích hoặc chưa hết ý. Một số trường hợp chỉ trả lời một tiếng là “có” hoặc “không” chứ chưa giải thích được theo ý mình là vì sao có, vì sao không?
+ Còn ỷ lại hoặc nói theo các bạn chứ chưa chịu khó tự tìm ra câu trả lời hay cho chính mình.
+ Do tâm lí rụt rè e ngại: Học sinh lớp 1 khả năng giao tiếp, giao lưu trò chuyện với mọi người xung quanh còn rất hạn chế. Mặt khác do tâm lí sợ nói sai ý của giáo viên, sợ bạn bè chê cười khi nói không đúng hoặc nói ngọng nên học sinh cũng rất ít thể hiện mình, rất ít nói thậm chí đến giờ luyện nói có học sinh còn không nói được câu nào.
+ Học sinh lớp 1 đa số rất hiếu động, dễ nhớ nhưng lại mau quên nên việc ghi nhớ lời thầy cô dạy là chưa vững chắc. Các em còn lúng túng khi nói chính là các em còn hạn chế vốn sống, vốn hiểu biết và kinh nghiệm giao tiếp dẫn đến việc các em không biết nói gì với các chủ đề luyện nói theo yêu cầu bài học hoặc trong quá trình học tập.
- Về phía phụ huynh học sinh:
+ Một phần vì điều kiện thời gian, mặt khác phụ huynh còn lúng túng trong việc nắm bắt nội dung, phương pháp dạy vì vậy việc nhắc nhở, hỗ trợ học sinh ở nhà còn rất hạn chế.
+ Một số gia đình chưa quan tâm đúng mực đến việc học của con em mình, còn phó mặc cho nhà trường.
Với thực trạng như vậy, tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu để tìm ra biện pháp nhằm khắc phục tình trạng học sinh ngại nói, nói trốn không, diễn đạt không rõ ràng.
Từ đó, nâng cao chất lượng giảng dạy. Hơn nữa, tôi nhận thấy người giáo viên tiểu học là người thầy đầu tiên đặt nền móng trang bị cho các em ý thức về chuẩn ngôn ngữ và chuẩn văn hoá đồng thời ở trường Tiểu học có điều kiện rèn cho học sinh kĩ năng nói, bởi trong chương trình mới rất chú trọng luyện nói.
2. Nội dung cần giải quyết:
Từ những hạn chế của thực trạng nêu trên cũng như từ thực tế lớp học trong thời gian qua, tôi đã lựa chọn và xác định một số nội dung cần giải quyết như sau:
- Rèn cho học sinh kỹ năng nói – nghe.
- Hướng dẫn học sinh luyện nói đúng chủ đề.
- Đổi mới phương pháp, hình thức dạy cho phù hợp với khả năng nói của từng em.
- Động viên, khích lệ đối với học sinh nói còn rụt rè, nhút nhát, thiếu tự tin khi luyện nói.
- Rèn cho học sinh kĩ năng luyện nói thông qua các môn học và các hoạt động khác.
- Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa và các tài liệu dạy học có liên quan đến phân môn Tiếng việt tiến hành áp dụng các biện pháp và chuẩn bị đồ dùng học tập đầy đủ và phong phú.
3. Giải pháp:
Xuất phát từ thực trạng và nguyên nhân trên, đồng thời thấy rõ vai trò, nhiệm vụ của một giáo viên đang đứng trên bục giảng, tôi đưa ra một vài giải pháp sau đây, hy vọng sẽ nâng cao được chất lượng môn Tiếng Việt cho lớp tôi.
3.1. Rèn cho học sinh kỹ năng nói – nghe:
Hoạt động nói và nghe được thiết kế nhằm giúp học sinh bước đầu nghe hiểu đúng, biết tôn trọng các quy tắc nói và nghe, có khả năng diễn đạt, trình bày bằng ngôn ngữ nói một cách rõ ràng, tự tin.
Do đó giáo viên cần hướng dẫn học sinh quan sát, phân tích mẫu, cách làm và thực hành. Giáo viên sử dụng các phương pháp, kĩ thuật giúp học sinh động não suy nghĩ, đặt câu hỏi và trình bày các ý kiến, quan điểm cá nhân, cách thức giải quyết nội dung nói được yêu cầu.
Cần tạo điều kiện cho học sinh đều có cơ hội tham gia vào hoạt động, như nói theo cặp, trong nhóm, trước lớp giáo viên cần trình bày rõ ràng, tường minh các quy tắc trong nói và tạo cơ hội cho học sinh thực hành, vận dụng các quy tắc hằng ngày, cho học sinh tự đánh giá và nhận xét lẫn nhau trong khi thực hành nói. Việc này chủ yếu được thiết kế trong hoạt động khởi động, hoạt động mở rộng và hoạt động kể chuyện của các bài.
Ví dụ: Hoạt động khởi động: Bài A, a, chủ đề 1: Những bài học đầu tiên
- Học sinh quan sát tranh, trao đổi, nói từ ngữ chứa tiếng có âm a. Giáo viên sẽ gợi ý để giúp HS phát hiện tiếng có âm a. Giáo viên hỏi: Bé đi công viên với ai? (ba, bà, má). Hai bên đường có những gì? (hoa, lá…)
- Học sinh phát hiện điểm giống nhau giữa các tiếng tìm được (cùng có âm a). Học sinh lắng nghe giáo viên giới thiệu bài mới.
Biện pháp này tôi đã áp dụng hằng ngày trong tiết học, kết quả nhận thấy học sinh rất tích cực hăng hái phát biểu, giờ học trở nên sinh động hơn, không chỉ tập trung vào những học sinh có năng khiếu nói tốt mà phải giành cho tất cả mọi đối tượng học sinh đều được tham gia nói. Cũng không nhất thiết cứ phải tới mục luyện nói của môn Tiếng Việt thì các em mới được tham gia nói mà ngay trong quá trình giảng dạy ở tất cả các môn, các em đều được tham gia giao tiếp.
3.2. Hướng dẫn học sinh luyện nói đúng chủ đề:
Mỗi chủ đề đều gồm có 5 bài học, trong đó có 4 bài học âm vần, 1 bài ôn tập – kể chuyện. Mở đầu mỗi tuần, học sinh được trao đổi, nói và nghe xung quanh tên chủ đề để rèn kĩ năng tư duy, phỏng đoán góp phần vào phát triển lời nói cho học sinh. Tập cho học sinh đọc đúng tên chủ đề đây là tính mới của sách giáo khoa Tiếng việt 1 bộ sách Chân trời sáng tạo là tập trung hình thành năng lực giao tiếp cho học sinh, các kĩ năng ngôn ngữ gắn liền ngữ cảnh chân thực với học sinh các chủ đề với tên gọi gần gủi, thân thuộc với học sinh, mỗi tuần mỗi chủ đề tạo điều kiện cho học sinh khám phá sáng tạo ở từng chủ đề.
Chính vì thế tôi luôn tìm cách gợi mở bằng những câu hỏi có liên quan để các em luôn hướng vào nội dung tranh, phát huy được tính sáng tạo trong suy nghĩ, khơi dậy những ý tưởng của từng em. Từ đó cho các em nói được thành câu đủ ý, và xoay quanh chủ đề bức tranh, hoặc tìm được tiếng mới, đặt câu phong phú hơn ở phần mở rộng từ ứng dụng.
Ví dụ: Bài e, ê. Chủ đề: Bé và bà
- Hoạt động mở rộng: Giáo viên cho học sinh quan sát tranh, phát hiện được nội dung tranh (Tranh vẽ những gì? Màu sắc, hình dáng như thế nào? Em có thích không, vì sao?) – Học sinh sẽ xác định được yêu cầu: nói vể những vật em biết. Học sinh nói về xe, chú hề, quả me. Giáo viên có thể tổ chức hỏi đáp theo cặp đôi.
Để tiết học nhẹ nhàng, không nhàm chán mà lại nhiều em được luyện nói thì giáo viên phải tổ chức nói theo nhiều hình thức khác nhau như hỏi- đáp, nói trước lớp, hướng dẫn học sinh nhận xét. Những hình thức này còn giúp giáo viên kiểm soát được khả năng nói của học sinh trong lớp. Qua thời gian áp dụng biện pháp, tôi thấy các em tự tin nói trước lớp hơn, không còn rụt rè khi gọi phát biểu, dần dần tạo thành thói quen, lớp học trở nên sinh động.
3.3. Đổi mới phương pháp, hình thức dạy cho phù hợp với khả năng nói của từng em:
Trong lớp tôi nghiên cứu có gần 2/3 là học sinh nói tiếng của miền Nam (hay dùng từ ngữ địa phương) học sinh còn nhiều thiếu thốn, điều kiện tiếp cận với báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng chưa nhiều, ít có điều kiện tiếp cận với môi trường mới nên ngôn ngữ diễn đạt còn rất nhiều hạn chế.
Tuỳ theo từng chủ đề mà tôi có định hướng cho học sinh khi luyện nói, khi đặt câu hỏi để giúp các em biết cách nói cho sát nội dung bài và nói một cách tự nhiên, chủ động không gượng ép. Tôi phải chuẩn bị và dự trù thêm một số câu hỏi cho từng đối tượng, đi từ câu hỏi khái quát rồi mới gợi ý bằng những câu hỏi nhỏ (khi các em lúng túng sẽ dễ dàng có cơ sở theo định hướng của cô để rèn nói).
Ví dụ: Dạy bài: Lần đầu đi qua cầu khỉ. Chủ đề: Thăm quê. Tôi xây dựng hệ thống câu hỏi dành cho các đối tượng như sau: Theo em, câu chuyện sẽ kể vể điều gì? (lần đầu qua câu khỉ). Quan sát tranh và cho biết đâu là cầu khỉ và trông nó như thế nào? Theo em cầu khỉ có dễ đi không? Nếu một người lần đầu đi cầu khỉ, họ cảm thấy như thế nào?
Các em sẽ hào hứng và tham gia vào phần luyện nói một cách chủ động, tích cực hơn. Nếu các em trả lời đúng nhưng chưa thành câu, giáo viên chú ý uốn nắn sửa sai ngay và cho các em nói lại để các em nhớ, tạo thành kĩ năng.
Cần lưu ý để tạo nên ấn tượng tốt cho các em khi giảng dạy nói chung và đàm thoại nói riêng thì người giáo viên phải thực sự gương mẫu trong việc nói năng, nói đủ ý, diễn đạt gãy gọn và trong quá trình rèn luyện cho học sinh qua từng câu, từng bài nên kiên trì, không nóng vội mà quát nạt, giận dỗi hay trách móc học sinh. Phải hết sức nhã nhặn với các đối tượng trong lớp tạo không khí vui vẻ, phấn khởi giúp các em có cảm giác thoải mái thì hoạt động nói mới diễn ra một cách tự nhiên. Nên chú trọng tìm hiểu tâm sinh lý, những khó khăn của học sinh trong lớp để có sự sẻ chia, thông cảm, động viên các em nói nhiều và mạnh dạn hơn bắt đầu từ những điều đơn giản nhất, dần dần tăng mức độ khó lên theo thời gian.
Ví dụ: Với những chủ đề gần gũi với học sinh như: Chủ đề: Bé và bà; bạn bè; lớp em; mẹ và cô…, Hãy kể với cha mẹ hôm nay ở lớp con đã ngoan thế nào?
Giáo viên gợi mở cho học sinh nói qua vốn hiểu biết thực tế của các em, lựa chọn những hình thức học tập, trò chơi v.v…
Dạy tăng thời lượng ở các tiết củng cố. Với bài có nhiều nội dung, giáo viên có thể tăng thời lượng để dạy chậm và kĩ hơn, đảm bảo học sinh “Học đâu chắc đấy”. Cách dạy phải đảm bảo đủ nội dung. Với những tiết học củng cố kĩ năng vào buổi chiều giáo viên cần tìm hiểu và phân loại đối tượng học sinh xem yếu kĩ năng nào thì ghép vào 1 nhóm để rèn luyện từng kĩ năng nghe, nói, đọc, viết.
Muốn vậy giáo viên phải luôn trau dồi kiến thức, luôn thay đổi phương pháp dạy học cho phù hợp. Trong giờ học, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, tổ chức để học sinh tự tìm ra kiến thức.
Từ khi áp dụng biện pháp này, học sinh lớp tôi thích được nói lên ý kiến của mình, biết nói tròn câu, đúng chủ đề đưa ra. Các em tự tin khi tìm từ ngữ mới, đặt câu có nghĩa và hay hơn.
3.4. Động viên, khích lệ đối với học sinh nói còn rụt rè, nhút nhát, thiếu tự tin khi luyện nói:
Giáo viên luôn động viên nhắc nhở các em phải luôn mạnh dạn rèn phát Mỗi khi học sinh học tập tốt ở tất cả mọi lĩnh vực trong đó có phần luyện
nói, kĩ năng nói tốt thì giáo viên cần tuyên dương kịp thờì, đây là động lực thúc đẩy có hiệu quả cao nhất giúp các em đã làm tốt phát huy, những em chưa mạnh dạn, chưa tự tin khi nói cũng tự điều chỉnh. Không nên chê hoặc phạt khi các em nói chưa đúng theo ý mình mà cần giúp các em hiểu nội dung cần nói để các em tham gia nói tích cực. Đối với học sinh tiểu học, giáo viên là người chuẩn mực nhất, tuyệt vời nhất, nói gì cũng đúng. Chính vì thế nên giáo viên phải có kĩ năng nói chuẩn, đúng, ngoài ra cần có kĩ năng nói truyền cảm khi kể chuyện.
Hằng ngày, dành thời gian hợp lí để học sinh tập đọc sách, đọc truyện cho học sinh nghe để học sinh bắt chước theo phong cách nói của giáo viên. Thường xuyên gọi học sinh nhận xét bạn để tập thói quen nói trước đám đông, mạnh dặn đưa ra ý kiến của mình.
Đối với những học sinh chưa mạnh dạn, còn lúng túng hoặc tiếp thu không nhanh tôi dẫn dắt các em làm quen với tứng ý nhỏ, có khi phải nói mẫu rồi cho HS nói lại để cho các em làm quen việc nói, thường xuyên khuyến khích các em làm việc nhóm để hòa nhập với các bạn, bớt đi rụt rè.
Ví dụ: Bài câu chuyện về giấy kẻ: Giáo viên đọc mẫu, đặt một vài câu hỏi gợi ý để thu hút sự chú ý của học sinh, ví dụ: Theo con, khi được đưa đến nhà máy, giấy kẻ sẽ trở thành gì? Con nghĩ, sau khi nghe lời khuyên của giấy kẻ thì Minh sẽ làm gì?
Vừa kể vừa hỏi để học sinh cùng tham gia kể chuyện tạo cơ hội cho học sinh nói một cách tự nhiên. Khi các em có tiến bộ, dù nhỏ nhất tôi cũng dùng những lời động viện để khuyến khích các em.
Ví dụ: “Em đã đọc tốt hơn hôm qua rồi, cố lên em nhé!”,
“Em đã có tiến bộ nhiều hơn rồi, cô khen em!”....
Không chỉ khen những em đã nói tốt mà tôi còn khen cả những em đã giúp bạn để từ đó các em có động lực giúp bạn hơn, hứng thú với công việc hơn để các em cùng tiến bộ.
Sau thời gian áp dụng biện pháp thì lớp tôi yêu thích và tích cực hơn trong các môn học, có ý thức đọc bài trước ở nhà vào lớp thì tích cực phát biểu ý kiến.
3.5. Rèn cho học sinh kĩ năng luyện nói thông qua các môn học và các hoạt động khác:
Giáo viên cần xác định rõ nói là một trong bốn kĩ năng quan trọng ở tất cả các môn học. Vì vậy kĩ năng nói cần được quan tâm đúng mức. Khi tổ chức đàm thoại ở lớp trước tiên là giáo viên nên yêu cầu một cách rõ ràng cho mọi đối tượng học sinh đều hiểu được vấn đề mà giáo viên đặt ra. Khi nêu câu hỏi thì phải chọn học sinh có trình độ phù hợp để trả lời dạy phân hóa theo các đối tượng học sinh, không chỉ tập trung vào những học sinh có năng khiếu nói tốt mà phải giành cho tất cả mọi đối tượng học sinh đều được tham gia nói. Cũng không nhất thiết cứ phải tới mục luyện nói của môn Tiếng Việt thì các em mới được tham gia nói mà ngay trong quá trình giảng dạy ở tất cả các môn, các em đều được tham gia luyện nói.
Ví dụ: Trong môn toán:
Giáo viên hỏi: 1 + 2 = ? (một cộng hai bằng mấy?) thường thì học
sinh chỉ trả lời luôn kết quả: 3 hoặc bằng 3. Lúc này giáo viên giúp đỡ học sinh hiểu ngoài việc nói đúng ra cần phải nói đủ ý câu như: một cộng hai bằng ba (1 + 2 = 3) và cho học sinh nhận xét câu trả lời của bạn.
Khi học sinh tham gia nhận xét câu trả lời của bạn mình đó cũng là hình thức giúp các em luyện nói: Như ví dụ trên khi bạn trả lời, học sinh khác sẽ tham gia nhận xét bạn: Thưa cô! Bạn nói đúng nhưng chưa đủ ý câu: Hoặc bạn nói đúng, đủ, nói to, rõ ràng ạ
Như vậy đã thể hiện hình thức tăng cường Tiếng Việt cho học sinh và giúp người nghe hiểu trọn vẹn nội dung đề yêu cầu. Ngoài ra trong quá trình hình thành các phép tính, giáo viên hướng dẫn cho các em nói thông qua các các hình vẽ (trực quan) hoặc đồ dùng có sẵn, từ các bài học nhận biết số cho đến các phép tính và sau là toán giải có lời văn. Giúp các em tự lĩnh hội được kĩ năng nói Tiếng Việt tốt hơn.
Ở tiết Hoạt động trải nghiệm: Giáo viên sẽ sinh hoạt thêm cho học sinh các vần đề như chào hỏi thầy cô, giáo viên nên dành ít thời gian để nói chuyện với các em. Vì có như vậy các em mới cởi mở thể hiện hết tâm tư tình cảm, mạnh dạn khi nói. Và chắc chắn lúc này sẽ có em nói hay, có em nói vụng về. Từ đó giáo viên có thể chỉnh sửa câu nói cùa các em cho phù hợp. Qua hoạt động này học sinh sẽ nhớ lâu, giáo viên uốn nắn các em cũng thuận lợi.
Ví dụ: Hôm nay ai đưa con đi học?
Mình có thích học môn học này không?
Luôn tạo cho học sinh không khí học tập thoải mái, các em mạnh dạn chia sẽ với các bạn, không còn ngại khi nói. Quan tâm, uốn nắn, sửa sai kịp thời cho các em mọi lúc mọi nơi và trong tất cả các môn học dần dần các em khắc phục và tiến bộ hơn trước, các có ý thức nói tròn câu diễn đạt rõ ràng, tự tin phát biểu.
Qua biện pháp này, sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên và phụ huynh chuyển biến rõ rệt về ngôn ngữ, các em nói chuẩn hơn khi giao tiếp, mạnh dạn phát biểu trước đám đông.
3.7. Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa và các tài liệu dạy học có liên quan đến phân môn Tiếng việt tiến hành áp dụng các biện pháp và chuẩn bị đồ dùng học tập đầy đủ và phong phú.
Tranh ảnh và đồ dùng dạy học rất quan trọng không thể thiếu được trong việc dạy học nhất là ở phân môn Tiếng việt. Ngày nay, sách giáo khoa Tiếng Việt 1 bộ Chân trời sáng tạo với những kênh hình rất đa dạng, phong phú, ảnh sắc nét, rõ ràng thu hút sự quan sát, tò mò, sáng tạo ở học sinh. Càng có tranh ảnh, đồ dùng thì càng tạo sự hứng thú của học sinh trong tiết học. Chính vì vậy, mỗi tiết học, giáo viên cần chuẩn bị đầy đủ đồ dùng, nắm được mục tiêu của từng bức tranh, cách sử dụng đồ dùng.
Khi dạy Tiếng Việt lớp 1 với những từ khó trong bài giáo viên nên sử dụng vật thật hay tranh ảnh để giải nghĩa cho học sinh hiểu và phải thường xuyên sử dụng tranh, ảnh, vật thật phù hợp với nội dung từng bài học.
Đồ dùng dạy học giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức, phát triển kĩ năng thực hành. Kích thích hứng thú nhận thức của học sinh. Phát triển trí tuệ, giáo dục nhân cách cho học sinh.
Ví dụ: Khi dạy về chủ đề: Dế, cá cờ, bi ve, …tôi có thể chuẩn bị sẵn những vật thật đó để học sinh có thể quan sát trực tiếp tạo hứng thú cho các em. Từ đó gợi ý các em có thể lấy những đồ dùng làm những trò chơi dân gian mà trẻ em xưa vẫn chơi. Hoặc khi dạy chủ đề: Đèn dầu, đèn điện, đèn huỳnh quang, chủ đề: Rổ rá, chủ đề: Chuối, bưởi, vú sữa… chủ đề Lễ hội, các đoạn video clip về gió, mây, mưa, bão, lũ…… tôi cũng tiến hành tương tự.
Đồ dùng dạy học giúp cung cấp các kiến thức một cách chắc chắn làm cho việc giáo dục trở nên cụ thể hơn, nhẹ nhàng hơn. Giúp giáo viên kiểm tra khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh.
Đây là một trong các giải pháp giúp cho người giáo viên nắm bắt và biết được kết quả học tập của học sinh. Giáo viên phải vận dụng một cách linh hoạt trong quá trình rèn kĩ năng nói, cẩn tiến hành đồng loạt các biện pháp, có hệ thống, kết hợp và liên tục.
4. Kết quả:
Trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm học sinh còn rụt rè, chưa tập trung học khi học môn Tiếng việt thiếu tự tin, chưa tự giác tham gia phát biểu xây dựng tiết học, ngại nói trước lớp.
Qua những biện pháp và giải pháp tôi đã áp dụng được nêu ở trên, đến cuối năm học 2021 – 2022 các em đã học sôi nổi hơn nhiều, các học sinh rụt rè nay đã luôn thích giơ tay phát biểu, hoạt bát khi chơi, giao tiếp với các bạn. Khả năng nói của các em tiến bộ rõ rệt. Các em tự tin nói trước đám đông, giao tiếp tốt với mọi người xung quanh.
- Chất lượng giờ học được nâng lên: tỉ lệ học sinh nói đúng, diễn đạt rõ ràng, phát biểu xây dựng bài nhiều hơn, tự tin khi trình bày ý kiến của mình trước lớp.
- Học sinh tích cực, chủ động hơn trong giờ học. Thích học môn Tiếng việt nhất là hoạt động luyện nói, các em tranh nhau đặt câu, với nhiều câu từ rất đa dạng và phong phú.
- Học sinh ham thích trong chờ khi được học môn Tiếng việt, cũng như các môn học khác các em hăng hái phát biểu.
- Học sinh được bộc lộ khả năng của mình trước lớp qua các tiết kể chuyện, trò chơi. Các em chủ động tham gia hoạt động nhóm, tự đưa ra nhiều ý kiến. Các em có thể kể lại một đoạn trong câu chuyện trước lớp một cách rất tự tin.
- Trong giao tiếp học sinh nhạy bén, tự tin, nói dùng từ chuẩn hơn. Chủ động tham gia vào hoạt động nói. Giờ học Tiếng việt đã trở nên nhẹ nhàng, học sinh yêu thích và hiệu quả hơn.
- Bảng thống kê đầu năm học 2021 -2022 (trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm)
Lớp |
TSHS |
Điểm 10 – 9 |
Điểm 8 – 7 |
Điểm 6 – 5 |
Điểm dưới 5 |
||||
TS |
Tỉ lệ % |
TS |
Tỉ lệ % |
TS |
Tỉ lệ % |
TS |
Tỉ lệ % |
||
1/1 |
20 |
3 |
15% |
5 |
25% |
7 |
35% |
5 |
25% |
- Bảng thống kê cuối năm học 2021 - 2022: (sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm)
Lớp |
TSHS |
Điểm 10 – 9 |
Điểm 8 – 7 |
Điểm 6 – 5 |
Điểm dưới 5 |
||||
TS |
Tỉ lệ % |
TS |
Tỉ lệ % |
TS |
Tỉ lệ % |
TS |
Tỉ lệ % |
||
1/1 |
20 |
8 |
40% |
9 |
45% |
3 |
15% |
0 |
0 |
Đây là kết quả của một quá trình phấn đấu của cô trò lớp 1/1 trường TH &THCS Vĩnh Bửu. Chất lượng phân môn Tiếng việt đi lên rõ rệt đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng của lớp và của tổ chuyên môn.
Để đạt được kết quả nêu trên đòi hỏi giáo viên phải có sự đầu tư: lòng nhiệt tình, gần gũi với học sinh, nhắc nhở những lỗi sai của học sinh một cách nhẹ nhàng, khóe léo, để từng bước giúp các em tiến bộ, cần sửa lỗi cho học sinh mọi lúc mọi nơi và kết hợp giữa nghe - nói một cách nhuần nhuyễn. Luyện tập từ dễ đến khó. Tăng cường Tiếng Việt cho các em vào các môn học hằng ngày, khen ngợi, tuyên dương, khích lệ khi các em dù là việc nhỏ để các em tích cực hơn trong việc học. Không những thế cần kết hợp với nhà trường, gia đình động viên các em, làm cho các em chăm chỉ tự tin và có hứng thú học tập.
Qua dạy thực tế ở lớp, tôi nhận thấy rằng giáo viên phải nắm vững chuyên môn, phải linh động sáng tạo sử dụng các phương pháp, đồ dùng dạy học thích hợp đúng lúc. Đồng thời, phải sử dụng thường xuyên liên tục trong quá trình dạy học. Rèn học sinh thói quen nói đủ câu, diễn đạt rõ ràng trong phân môn Tiếng Việt nói riêng và các môn học khác nói chung. Từ đó, nâng cao chất lượng giáo dục, học sinh luôn phát huy được sự độc lập, tự chủ sáng tạo trong học tập, tự tin giao tiếp.
1. Tóm lược giải pháp:
Qua quá trình thực nghiệm nghiên cứu đề tài: “Biện pháp rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1 khi học môn Tiếng Việt” thành công tuy nhỏ nhưng tôi ý thức được rằng để giúp học sinh lớp 1 tích cực, chủ động hơn trong giờ học, ham thích khi được học môn Tiếng Việt. Giúp học sinh tự tin, nói năng dùng từ chuẩn hơn, đòi hỏi giáo viên phải dành nhiều thời gian, công sức nghiên cứu soạn giảng, có lòng nhiệt tình với học sinh và tâm huyết với nghề nghiệp. Thầy cô giáo đã miệt mài, tận tuỵ thì việc mong muốn có nhiều học sinh hoàn thành tốt sẽ không còn là khó. Sau thời gian đầu tư nghiên cứu và áp dụng những biện pháp, giải pháp dạy học như trên, học sinh lớp tôi đã có chuyển biến đi lên về chất lượng phân môn Tiếng Việt tiến bộ rõ rệt.
Tuy nhiên những biện pháp mà tôi đã áp dụng trên, tuỳ đối tượng học sinh có năng khiếu có sự vận dụng một cách khéo léo, sáng tạo của giáo viên. Tôi nghĩ rằng nội dung đề tài này không có nhiều điểm mới, đó chỉ là nhiệm vụ hằng ngày của giáo viên. Nhưng đồng thời tôi cũng tin rằng nếu dốc hết tâm huyết và tận tuỵ với học sinh, soạn giảng nghiêm túc thì chắc chắn sẽ gặt hái được thành công.
Bên cạnh đó giáo viên cũng phải thường xuyên phối hợp với phụ huynh học sinh về phương pháp dạy học để nhắc nhở, đôn đốc việc học ở nhà của các em.
Muốn có chất lượng trong giờ dạy luyện nói tốt thì việc đầu tiên người giáo viên phải xây dựng được kế hoạch bài dạy dài hạn và theo từng chủ đề, từng bài theo hướng đổi mới. Vậy muốn cho học sinh nói tốt, trước hết người giáo viên phải nắm được vai trò của việc luyện nói cũng như kĩ năng nói, người giáo viên phải biết xây dựng kế hoạch lâu dài và ngắn hạn phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của học sinh địa phương.
Trong phần luyện nói giáo viên cần chú ý tới các em còn rụt rè, e ngại để giúp đỡ các em kịp thời – giáo viên cần động viên khích lệ, gọi học sinh nhận xét bạn, gợi mở câu hỏi đơn giản để học sinh tham gia trả lời, cho học sinh nói theo câu mẫu... đó là những bước đầu để học sinh tập luyện nói dần.
Trong quá trình học sinh luyện nói giáo viên quan tâm theo dõi, uốn nắn, sửa sai kịp thời cho các em. Thường xuyên trò chuyện, giao tiếp để giúp học sinh mạnh dạn trao đổi một cách tự nhiên.
Giáo viên cần có sự chuẩn bị chu đáo, phải đưa ra các tình huống có thể xảy ra khi hướng dẫn học sinh luyện nói sao cho đúng chủ đề, cho hay. Muốn vậy giáo viên phải nắm thật chắc nội dung chủ đề cần luyện nói, phải thật sự quan tâm đến tất cả học sinh trong mỗi giờ lên lớp, tận dụng tối đa đồ dùng dạy học phương tiện trực quan để phát huy năng lực quan sát của học sinh. Trong giờ học, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, tổ chức để học sinh nắm thật chắc kiến thức. Hệ thống những câu hỏi gợi mở, ngắn gọn dễ nói xoay quanh các chủ đề luyện nói.
Thường xuyên gần gũi, trò chuyện cùng học sinh, kịp thời khen ngợi, động viên những học sinh còn rụt rè, nhút nhát giao tiếp. Phối hợp với phụ huynh để kết hợp rèn luyện nói ở nhà cho các em.
Giáo viên phải thực sự tâm huyết với nghề, đầu tư nhiều thời gian nghiên cứu cho mỗi bài giảng, có kế hoạch và phương pháp giảng dạy theo từng đối tượng học sinh. Sử dụng phương pháp dạy học thích hợp, tạo ra những giờ dạy gây hứng thú học tập cho học sinh và đạt kết quả học tập cao.
Giáo viên phải linh hoạt, sáng tạo trong giảng dạy. Mở đầu tiết học cần giới thiệu bài một cách tự nhiên để gây hứng thú học tập cho học sinh nhằm lôi cuốn các em vào nội dung bài. Gợi mở để học sinh cùng nói hướng về chủ đề đưa ra.
Giáo viên cần chuẩn bị đồ dùng dạy học đa dạng phong phú và sưu tầm hoặc sáng tác tranh ảnh liên quan đến bài học để làm vốn từ học sinh thêm phong phú và làm sinh động thêm bài học.
Có thể nói, bước đầu thành công trong việc dạy luyện nói cho học sinh lớp 1 là nguồn động viên rất lớn cho tôi. Vì đây là chương trình mới phần luyện nói cũng góp phần quan trọng trong môn Tiếng Việt. Tôi sẽ đem kinh nghiệm này tiếp tục áp dụng để giảng dạy môn Tiếng Việt ở năm học này và các năm học sau, với mong muốn lớn nhất của tôi là giúp học sinh nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt cấp Tiểu học.
Trên đây là một số vấn đề tôi đã suy nghĩ, học hỏi và thể hiện trong quá trình giảng dạy môn Tiếng Việt. Rất mong nhận được sự đồng tình của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp lớp 1.
2. Phạm vi áp dụng:
Đề tài '' Biện pháp rèn kĩ năng nói, diễn đạt rõ ràng cho học sinh lớp 1 khi học môn Tiếng Việt”. Có thể áp dụng cho lớp 1 ở trường tiểu học trong huyện.
3. Kiến nghị:
Để dạy học có hiệu quả môn Tiếng Việt ở Tiểu học tôi xin có một số đề nghị sau:
- Đối với nhà trường: Cần mở các lớp tập huấn cho giáo viên học tập nhằm đổi mới phương pháp dạy và học, rút kinh nghiệm chung đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy.
- Đối với đồng nghiệp dạy lớp 1: Thầy, cô giáo cần phải đầu tư hơn nữa về phương pháp và biện pháp cho mỗi giờ học môn Tiếng Việt, tăng cường dự giờ đồng nghiệp với nhiều phân môn khác nhau để đưa ra phương pháp và trình tự hợp lý cho tiết dạy (từng kiểu bài cụ thể ).
- Mong các bậc phụ huynh học sinh cần trang bị cho em mình đầy đủ đồ dung học tập nhằm bổ sung vốn kiến thức và thường xuyên quan tâm theo dõi việc học của các em.
Trên đây là một số việc mà tôi đã áp dụng để học sinh học tốt môn Tiếng Việt ở lớp 1. Thực tế trong khi giảng dạy mỗi giáo viên đều có suy nghĩ, kinh nghiệm, bí quyết nghề nghiệp riêng của mình xong đều mục đích cuối cùng là nâng cao chất lượng dạy và học.
Tôi rất mong sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo cho sáng kiến dạy học của tôi thêm phong phú, hoàn thiện hơn.
Một số giải pháp dạy toán phép chia có dư ở tiểu học
02/04/2025 14:46
Một số giải pháp dạy toán phép chia có dư ở tiểu học
Lồng ghép một số trò chơi nhỏ trong bài dạy thể dục nhằm tạo hứng thú cho học sinh
01/04/2025 16:44
Lồng ghép một số trò chơi nhỏ trong bài dạy thể dục nhằm tạo hứng thú cho học sinh
Một số biện pháp xây dựng lớp học hạnh phúc tại lớp 5A4
31/03/2025 17:06
Một số biện pháp xây dựng lớp học hạnh phúc tại lớp 5A4
Một số giải pháp vận phương pháp nhóm giúp học sinh dân tộc thiểu số phát huy kĩ năng làm việc nhóm
30/03/2025 07:53
Một số giải pháp vận phương pháp nhóm giúp học sinh dân tộc thiểu số phát huy kĩ năng làm việc nhóm.
Một số giải pháp phát triển kỹ năng viết bài văn miêu tả cho học sinh lớp 5
30/03/2025 11:02
Một số giải pháp phát triển kỹ năng viết bài văn miêu tả cho học sinh lớp 5
Một số biện pháp phát huy tính tự chủ, tự giác, sáng tạo ở học sinh lớp 5
30/03/2025 20:22
Một số biện pháp phát huy tính tự chủ, tự giác, sáng tạo ở học sinh lớp 5
29/03/2025 14:32
Một số biện pháp dạy môn Lịch sử lớp 5 theo hướng phát triển năng lực giúp học sinh yêu thích môn học Lịch sử
Tổ chức một số trò chơi toán học nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh lớp 5
28/03/2025 07:26
Tổ chức một số trò chơi toán học nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh lớp 5