Phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh trong công tác chủ nhiệm lớp
Ngày đăng: 26/03/2025 20:35
Ngày đăng: 26/03/2025 20:35
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Trong 5 phẩm chất cần đạt của học sinh thì phẩm chất “nhân ái” là một phẩm chất then chốt giáo dục học sinh lòng nhân ái, tình yêu thương con người, biết sống vì mọi người vì việc chung. Nhưng một thực tế đáng buồn là hiện nay một số học sinh do ảnh hưởng của các phương tiện giải trí truyền thông không lành mạnh trên internet nên có lối sống thời ơ, ích kỉ. tích học đòi nhưng lại vô cảm trước trước những nỗi đau hoặc khiếm khiết của người khác.
Là một giáo viên trực tiếp giang dạy tại trường tiểu học…. tôi luôn băn khoăn cho sự phát triển ồ ạt của công nghệ 4.0 sẽ kéo theo nhiều hệ lụy đến quá trình phát triển tâm sinh lý các em, nhất là học sinh lớp 1, một lứa thuổi hết sức hồ nhiên và ngây thơ trong trắng. Vậy là sao để đưa phẩm chất nhân ái đến với tâm hồn trẻ thơ bằng một cách nhẹ nhàng và sâu lắng nhất, đọng lại trong các em những tốt chất quý báu như ông cha ta đã có như: tình yêu thương, sự cảm thông chia sẻ, sống vì mọi người,…
Sau bao nhiêu trăn trở suy nghĩ, tôi đã đưa vấn đề này trình lên ban giám hiệu nhà trường xin ý kiến chỉ đạo thì đã nhận được sự ủng hộ tuyệt đối của nhà trường. Với phương châm giáo dục mở để phát triển phẩm chất năng lực học sinh. Do đó nhà trường đã rất ủng hộ tôi, hướng dẫn và đưa ra cho tôi nhiều phương án lựa chọn để giáo dục học sinh theo hướng phát triển phẩm chất năng lực.
Vậy là tôi đã có thêm động lực để nghiên cứu vấn đề trăn troe của bản thân bấy lâu nay. Tôi đã quyết định chọn phẩm chất “Nhân ái” để làm biện pháp nghiên cứu vì tôi nghĩ biện pháp này hết sức quan trọng không giải giá trị của nó mà tôi muốn các em được phát triển một cách toàn diện ngay từ khi đặt chân đến mái trường học tập.
Do đó tôi đã chọn đề tài: “Phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh trong công tác chủ nhiệm lớp”
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
Giúp học sinh phát triển 5 phẩn chất cốt lõi trong chương trình giáo dục phổ thong 2018 là một trong những nhiệm vụ then cốt của người giáo viên chủ nhiệm. Trong đó phẩm chất nhân ái có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh. Vì thế mục tiêu của đề tài là vận dụng những giải pháp mới lạ, hấp dẫn học sinh nhằm thu hút sự tập trung của các em, giúp các em thấm nhuần những giá trị từ các giải pháp mang lại để phát triển phẩm chất nhân ái cho bản thân qua đó phát triển các phẩm chất khác trong quá trình học tập và rèn luyện.
3. Đối tượng nghiên cứu.
Sáng kiến kinh nghiệm này vận dụng linh hoạt một số giải pháp giúp học sinh lớp 1 hình thành và phát triển phẩm chất nân ái nên đối tượng nghiên cứu là các em học sinh lớp ….. trường TH&THCS Hoàng Hoa Thám
4. Giới hạn của đề tài
Do giới hạn của biện pháp được nghiên cứu trong đề tài nên giới hạn của đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi của trường tiểu học.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng một số biện pháp sau:
a. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Là phương pháp nghiên cứu một số văn bản, tài liệu hướng dẫn về phương pháp dạy học phát triển phẩm chất năng lực và một số phương pháp dạy học tích cực để nghiên cứu đề tài.
b. Phương pháp khảo sát: Là phương pháp khảo sát đối tượng học sinh lớp 1 để tìm hiểu tâm sinh lí lứa tuổi từ đó có căn cứ nghiên cứu nội dung đề tài.
c. Phương pháp trao đổi kinh nghiệm: Là phương pháp trao đổi với một số đồng nghiệp có kinh nghiệm về dạy học lớp 1 để có thêm kinh nhgiệm trong quá trình nghiê cứu đề tài. Trao đổi với một số phụ huynh học sinh để tìm hiểu về tâm sinh lí lứa tuổi để có những biện pháp thực thi đề tài hiệu quả.
d. Phương pháp tổng kết: Là phương pháp tổng kết những vấn đề đã nghiên cứu và khảo sát từ đó xây dựng những giải pháp mới, hấp dẫn và có tính khả thi để áp dụng vào đề tài.
Ngoài ra tôi còn sử dụng thêm một số phương pháp khác phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài.
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1. MÔ TẢ GIẢI PHÁP TRƯỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN
1.1. Tìm hiểu mối quan hệ giữa lòng nhân ái và vấn nạn bạo lực học đường
1.1.1. Khái niệm về lòng nhân ái và ý nghĩa của lòng nhân ái trong cuộc sống mỗi con người
Theo nghĩa Hán Việt, “nhân” là người, “ái” là tình yêu. “Nhân ái” chính là tình yêu của con người đối với con người, là tinh thần đoàn kết, yêu thương, sẻ chia, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống hàng ngày.
Lòng nhân ái là một trong những phẩm chất quan trọng mà mục tiêu giáo dục đề ra cho ngành giáo dục từ xưa đến nay.
Tại sao phải giáo dục lòng nhân ái? Thực tế đã chứng minh, sức mạnh của lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, yêu thương giữa con người với nhau mang đến những điều vô cùng kì diệu. Nó định hướng suy nghĩ và hành vi đúng. Nó giúp chúng ta tạo lên sức mạnh chiến thắng mọi khó khăn từ thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, đói nghèo...Nó mang đến một môi trường sống chan hoà yêu thương, niềm vui và hạnh phúc, xoá tan nỗi cô đơn và những điều tiêu cực trong mọi mối quan hệ. Nó làm nên giá trị cốt lõi của cuộc sống: Đó là hạnh phúc.
1.1.2. Mối quan hệ giữa lòng nhân ái và bạo lực học đường
Tại sao trong những năm gần đây, vấn đề bạo lực học đường lại trở nên phổ biến và ngày càng gia tăng về mức độ nghiêm trọng đến vậy? Ngành giáo dục gánh phần trách nhiệm cùng với gia đình và xã hội trong vấn đề này. Chúng ta đều biết rằng, một nền giáo dục hiệu quả là giáo dục toàn diện, bồi dưỡng, tạo nên những con người có đủ tri thức và nhân cách. Nhưng thực tế, ở nhiều nơi, giáo dục chỉ chú trọng dạy học sinh kiến thức, mà coi nhẹ công tác giáo dục lòng nhân ái cho học sinh. Những hành xử nóng nảy, thiếu kiểm soát, sự ích kỉ, nhỏ nhen, ganh đua hàng ngày trong học sinh… không được chú ý quan tâm, uốn nắn một cách nghiêm túc sẽ dần hình thành nên thói quen, nếp nghĩ, nếp sống sai lệch ở trẻ. Và khi các em sinh hoạt trong môi trường khác nhau, các em sẽ rất dễ gây mâu thuẫn, xung đột. Ngược lại, nếu các em được người lớn chú ý bồi dưỡng lòng nhân ái hàng ngày, uốn nắn những hành vi chưa chuẩn, các em sẽ dần nhận thức đúng và có kĩ năng điều chỉnh ý thức, hành vi, các em được khen ngợi, khích lệ lòng nhân ái trong các em sẽ dần hình thành và sẽ thành công trong các mối quan hệ. Bạo lực học đường sẽ không xảy ra.
1.2. Tìm hiểu nguyên nhân cụ thể của vấn nạn bạo lực học đường trong học sinh
Thông qua các bài viết, các đề tài nghiên cứu, các báo cáo đánh giá của các chuyên gia về vấn nạn bạo lực học đường thì nguyên nhân dẫn đến vấn nạn bạo lực học đường trong học sinh ngày càng gia tăng là bởi vì:
- Các em không được giáo dục, bồi dưỡng lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, yêu thương một cách đầy đủ và đúng cách trong các môi trường sinh hoạt của các em, đó là môi trường gia đình, nhà trường và xã hội.
- Sự bỏ bê con cái của cha mẹ trong gia đình do áp lực mưu sinh.
- Sự thiếu thông tin dẫn đến nhận thức chưa đúng về tầm quan trọng của lòng nhân ái trong mỗi con người dẫn đến chưa coi trọng giáo dục, bồi dưỡng lòng nhân ái cho con trẻ trong mỗi gia đình và nhà trường.
- Các trò chơi điện tử, phim ảnh mang tính bạo lực, những hình ảnh thiếu văn hoá tràn lan trên các trang mạng.
- Sự thiếu vắng những sân chơi bổ ích, ít được tham gia các hoạt động thiện nguyện, vui chơi lành mạnh dần hình thành lên một lối sống vô cảm, ích kỷ và ý thức trách nhiệm với cộng đồng ngày một kém.
- Cách ứng xử nóng nảy, bạo lực của người lớn đối với con trẻ vô tình ảnh hưởng đến cách hành xử của trẻ trong các mối quan hệ. Chúng cũng dễ nảy sinh xung đột trong các mối quan hệ khi nhu cầu, lợi ích của bản thân không được thoả mãn.
1.3. Điều tra thực trạng
Để nắm được thực trạng giáo dục lòng nhân ái trong gia đình và nhà trường, cách ứng xử của học sinh trong các mối quan hệ, từ đó đánh giá được sự hình thành và phát triển lòng nhân ái của học sinh, chúng tôi tiến hành các phương pháp sau: phát phiểu hỏi, phỏng vấn học sinh, phỏng vấn cha mẹ học sinh, giáo viên, quan sát học sinh trong các hoạt động học tập, vui chơi.
1.3.1. Thực trạng việc giáo dục lòng nhân ái cho con cái trong gia đình
Chúng tôi phát phiếu hỏi cho 50 phụ huynh và phỏng vấn phụ huynh trong dịp họp phụ huynh đầu năm và thu được kết quả sau:
PHIẾU ĐIỀU TRA DÀNH CHO CHA MẸ HỌC SINH
(Đánh dấu X vào cột tương ứng với mỗi dòng sau)
STT |
Cách cha mẹ ứng xử với con cái |
Coi trọng |
Không coi trọng |
Không quan tâm |
|||
SL |
TL |
SL |
TL |
SL |
TL |
||
1 |
Ứng xử với con cái bằng lời nói, cử chỉ yêu thương |
42 |
84 % |
8 |
16 % |
|
|
2 |
Luôn đối xử công bằng với các con |
35 |
70 % |
10 |
20 % |
5 |
10 % |
3 |
Giải quyết mâu thuẫn, xung đột giữa các con theo cách phân tích để con hiểu |
20 |
40 % |
25 |
50 % |
5 |
10 % |
4 |
Khuyến khích con tham gia các hoạt động thiện nguyện |
21 |
42 % |
27 |
54 % |
2 |
4 % |
5 |
Nêu gương bằng cách ứng xử nhân ái |
21 |
42 % |
27 |
54 % |
2 |
4 % |
Kết quả điều tra cho thấy, một bộ phận không nhỏ phụ huynh chưa chú ý đến việc giáo dục bồi dưỡng lòng nhân ái cho con; không coi trọng việc đối xử công bằng giữa các con mà chủ yếu ứng xử theo cảm xúc hoặc không quan tâm; chưa chú trọng việc giải quyết mâu thuẫn, nỗi bức xúc của trẻ, thường gạt đi những mâu thuẫn nhỏ; không quan tâm đến việc nêu gương và khuyến khích con tham gia các hoạt động nhân đạo.
1.3.2. Điều tra thực trạng việc giáo dục lòng nhân ái cho học sinh của giáo viên
Chúng tôi xây dựng và phát phiếu cho 20 giáo viên chủ nhiệm của trường, đồng thời phỏng vấn, trao đổi thêm để tìm hiểu về những vấn đề liên quan. Kết quả thu được như sau:
STT |
Phương pháp giáo dục lòng nhân ái cho HS |
Thường xuyên |
Không thường xuyên |
Không quan tâm |
|||
SL |
TL |
SL |
TL |
SL |
TL |
||
1 |
Lồng ghép trong các tiết dạy trên lớp |
12 |
60% |
8 |
40% |
|
|
2 |
Giáo dục trong các tiết học đạo đức |
20 |
100% |
|
|
|
|
3 |
Chú trọng giải quyết những mâu thuẫn giữahọc sinh |
10 |
50% |
10 |
50% |
|
|
4 |
Đối xử công bằng giữa các học sinh, không thiên vị |
16 |
80% |
4 |
20% |
|
|
5 |
Tổ chức các hoạt động thiện nguyện ngoài giờ chính khóa |
|
|
20 |
100% |
|
|
6 |
Nêu gương về lòng nhân ái |
4 |
20% |
16 |
80% |
|
|
7 |
Sử dụng từ ngữ, hành vi mang tính bạo lực |
12 |
60% |
8 |
100% |
|
|
- 100% giáo viên chú trọng lồng ghép giáo dục lòng nhân ái qua các tiết học có liên quan, các giờ đạo đức; giáo viên quan tâm đối xử công bằng và nêu gương cho học sinh về lòng nhân ái.
- Nhiều thầy cô chưa chú trọng giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong học sinh; chưa chú ý đến cảm xúc của học sinh khi bị nhận những lời chê bai, chế giễu và ít tổ chức các hoạt động ngoài giờ để bồi dưỡng lòng nhân ái cho các em do hạn chế về thời gian và áp lực về việc đảm bảo kiến thức, kĩ năng các môn học.
3.3. Điều tra thực trạng vấn nạn bạo lực học đường
3.3.1. Phát phiếu hỏi cho 100 học sinh khối 5
PHIẾU ĐIỀU TRA HÀNH VI BẠO LỰC DÀNH CHO HỌC SINH
Câu 1: Em đánh dấu X vào cột tương ứng với mỗi dòng trong bảng sau:
* Kết quả:
STT |
Hành vi |
Em đã bị (được) ai đối xử |
Em đã từng ứng xử với bạn |
||||||
Bố, mẹ |
Cô giáo |
Bạn bè |
|||||||
SL |
TL |
SL |
TL |
SL |
TL |
SL |
TL |
||
1 |
Chê bai, chế giễu bằng các từ ngữ: xấu, dốt, ngu, đố lười, đồ bỏ đi, vô tích sự,… |
20 |
20% |
5 |
5% |
30 |
30% |
25 |
25% |
2 |
Nói xấu, lôi kéo các bạn khác không cho chơi cùng. |
|
|
|
|
10 |
10% |
5 |
5% |
3 |
Quát mắng, chửi bới, cãi nhau… |
40 |
40% |
10 |
10% |
8 |
8% |
12 |
12% |
4 |
Xé sách vở, quăng đồ, vẩy mực vào sách vở, quần áo… |
5 |
5% |
2 |
2% |
12 |
12% |
8 |
8% |
5 |
Trấn lột, bắt nạt, đe doạ |
|
|
|
|
5 |
5% |
|
|
6 |
Đánh nhau, rủ bạn đánh hội đồng |
|
|
|
|
7 |
7% |
7 |
% |
7 |
Đối xử không công bằng |
15 |
15% |
10 |
10% |
18 |
18% |
17 |
17% |
8 |
Không lắng nghe, không dành thời gian quan tâm |
15 |
15% |
12 |
12% |
20 |
20% |
|
|
9 |
Ghen tỵ, đố kị với mình (với bạn giỏi hơn) |
|
|
|
|
8 |
8% |
13 |
13% |
Câu 2: Em cảm thầy thế nào khi bị người khác đối xử bằng những hành vi trên?
……………………………………………………………………………….
Từ bảng thống kê cho thấy:
- Rất nhiều HS từng bị đối xử bằng những lời nói hành vi mang tính bạo lực.
- Còn nhiều HS sử dụng hành vi bạo lực với bạn
- Các em đều cảm thấy buồn, tủi thân, ức chế, tức giận khi bị đối xử bạo lực.
3.3.2. Quan sát học sinh:
Chúng tôi tiến hành quan sát học sinh trong những giờ vui chơi, trong các giờ học và thu được kết quả theo mục đích quan sát như sau:
- Đa số các em đều có hành vi ứng xử thân thiện, đoàn kết, sẵn sàng giúp đỡ nhau trong sinh hoạt, học tập
- Nhiều em thường xuyên chê bai bạn bằng những lời nói tổn thương: học dốt, xấu, lười, bẩn, ngu,…Đây là nguyên nhân chính dẫn đến những mâu thuẫn trong học sinh.
- Một bộ phận nhỏ các em học sinh khối 4, 5 có biểu hiện chia rẽ, phân bè phái, làm mất đoàn kết trong tập thể.
- Có những anh lớp lớn hay doạ nạt, lấy đồ của các em học sinh lớp nhỏ, Các em học sinh lớp 1, 2, 3 hay tranh giành đồ chơi, truyện, đồ ăn dẫn đến mâu thuẫn, thậm chí đánh nhau…
- Một bộ phận nhỏ học sinh hay lấy đồ của bạn; phá đồ chơi, quấy rối, trêu chọc bạn dẫn đến xung đột.
4. Đánh giá chung thực trạng và chỉ ra nguyên nhân sau điều tra
4.1. Thực trạng:
- Về nhận thức: Một bộ phận cha mẹ học sinh và giáo viên chưa nhận thức được giá trị của lòng nhân ái đối với sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ cũng như ảnh hưởng của nó đến sự thành công của trẻ trong cuộc đời.
- Về phương pháp giáo dục lòng nhân ái:
+ Đa số giáo viên chỉ dừng lại ở việc sử dụng phương pháp giáo dục lòng nhân ái thông qua các giờ học đạo đức và những bài học có liên quan. Các biện pháp giáo dục lòng nhân ái cho học sinh mà giáo viên sử dụng cũng chưa thể hiện sự quan tâm, đầu tư đúng mức trong việc tìm kiếm những biện pháp giáo dục hiệu quả, mang tính toàn diện hơn. Nhiều thầy cô chưa chú ý đến cảm nhận của HS cũng như các yếu tố tác động tiêu cực, ảnh hưởng đến việc hình thành lòng nhân ái cho học sinh.
+ Nhiều bậc cha mẹ hầu như không để ý đến việc giáo dục lòng nhân ái cho con, vì thế dẫn đến việc ứng xử theo cảm xúc; nhiều khi áp đặt con cái theo ý mình do chưa biết lắng nghe và hiểu cảm xúc, suy nghĩ của con; không quan tâm đến việc khuyến khích, động viên con tham gia các hoạt động thiện nguyện và việc làm gương.
- Thực trang bạo lực học đường: Nhiều em học sinh có những biểu hiện lối sống vô tâm, ích kỷ chưa biết nghĩ đến cảm xúc của người khác. Các em sử dụng những hành vi chưa đúng, mang tính bạo lực như chê bai, chế giễu, cười nhạo những cái xấu, cái thua thiệt của bạn; các em sẵn sàng nổi giận, cáu gắt, chửi bới, thậm chí dùng vũ lực với bạn khi bị người khác không làm mình hài lòng; một bộ phận học sinh còn có tư tưởng bè phái, chia rẽ làm mất đoàn kết nội bộ… Nó thể hiện một nhân cách chưa hoàn thiện, thiếu hụt lòng nhân ái ở những mức độ khác nhau trong học sinh.
4.2. Những nguyên nhân cơ bản:
- Cha mẹ và giáo viên do thiếu thông tin, chưa nhận thức được vai trò và ý nghĩa to lớn của lòng nhân ái trong việc xây dựng thành công các mối quan hệ cũng như thành công trong cuộc sống nên không để ý đến việc tìm ra các phương pháp giáo dục tốt cho con
- Giáo viên còn chịu nhiều áp lực về kết quả dạy học các môn học bắt buộc được đánh giá qua các bài kiểm tra dẫn đến không còn tâm trí dành cho việc tổ chức cac hoạt động giáo dục lòng nhân ái.
- Các em vẫn còn bị đối xử bằng những hành vi mang tính bạo lực ở những cấp độ khác nhau. Môi trường sống của các em chưa tạo điều kiện để các em hình thành và phát triển lòng nhân ái.
III. MÔ TẢ GIẢI PHÁP SAU KHI CÓ SÁNG KIẾN
Với việc đánh giá đúng thực trạng về nhận thức, phương pháp pháp giáo dục lòng nhân ái cho trẻ của cha mẹ, thầy cô và thực trạng bạo lực học đường cũng như sự hình thành, phát triển lòng nhân ái trong học sinh, chúng tôi đã cùng nhau nghiên cứu, tìm ra một số biện pháp dù rất nhỏ nhưng mang lại những hiệu quả rõ rệt trong việc giáo dục, bồi dưỡng lòng nhân ái cho học sinh.
1. Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức của giáo viên và phụ huynh trong việc giáo dục lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, sẻ chia cho trẻ.
Chúng ta đều biết rằng, nhận thức là khởi nguồn của hành vi. Khi cha mẹ và thầy cô chưa coi trọng vấn đề giáo dục, bồi dưỡng lòng nhân ái cho các em thì không bao giờ để tâm, suy nghĩ phải làm thế nào để giúp con em mình hình thành và phát triển lòng nhân ái và cũng không quan tâm đến hành vi của mình có ảnh hưởng như thế nào đến việc hình thành nhân cách của trẻ. Những biểu hiện chưa đúng của trẻ không được cha mẹ, thầy cô quan tâm,uốn nắn sẽ dần trở thành thói quen xấu, hình thành lối sống ích kỷ, lệch lạc.
Chính vì vậy, việc giúp cho cha mẹ, thầy cô, những người gần gũi và có ảnh hưởng nhất đến trẻ, nhận thức được tầm quan trọng của phẩm chất nhân ái mà ngành giáo dục đặt ra có ý nghĩa rất lớn đến sự thành công của trẻ trong cuộc sống sau này. Thành công trong các mối quan hệ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp góp phần quyết định đến sự thành công trên con đường sự nghiệp nói riêng và thành công trong cuộc sống nói chung của trẻ.
Làm thế nào để tiếp cận, tác động và thay đổi nhận thức của cha mẹ, nâng cao hơn nữa nhận thức của thầy cô về vấn đề giáo dục lòng nhân ái của trẻ? Đây là câu hỏi mà chúng tôi trăn trở nhất. Bởi thay đổi nhận thức của một người trưởng thành là rất khó.
Và giải pháp cho vấn đề này như sau:
- Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, trong dịp nghỉ hè, chúng tôi giới thiệu và định hướng cho giáo viên xem chương trình “Thầy cô đã thay đổi” và nói chuyện, trao đổi, bàn luận một cách rất tự nhiên với nhau về những vấn đề liên quan trong chương trình.
- Sau tuần làm quen, chúng tôi gửi đến học sinh các lớp khối 2, 3, 4, 5 một yêu cầu: “Em muốn điều gì ở thầy cô giáo mới để giúp em học tập và rèn luyện tốt hơn trong năm học này? Hãy viết thư, lời nhắn gửi cô thầy để nói lên mong muốn của em?”
Qua các lá thư, lời nhắn gửi, hầu như các em đều bày tỏ lòng biết ơn với cô giáo và mong muốn cô luôn tươi cười, vui vẻ, mặc đẹp…Các em mong cô không cáu gắt, mong cô lắng nghe chúng em và tổ chức cho các em nhiều hoạt động ngoại khóa, hoạt động vui chơi nhiều hơn,…
Với những cách đó, chúng tôi muốn giáo viên tự liên hệ, cảm nhận, suy nghĩ về những điều mình đã làm tổn thương học sinh trong cách ứng xử không chủ ý của mình hàng ngày có tác động tiêu cực như thế nào đến hiệu quả giáo dục, đến nhân cách của trẻ. Điều đó sẽ giúp lay động cảm xúc, thức tỉnh nhận thức bản thân và định hướng thay đổi phương pháp, cách ứng xử của mình với học sinh một cách tự nhiên.
Trong những buổi họp hội đồng, chúng tôi đề cập đến vấn đề cần thiết phải giáo dục lòng nhân ái cho học sinh và nâng cao nhận thức dần cho giáo viên, cha mẹ học sinh thông qua các hoạt động phù hợp trên lớp, trong gia đình và nhà trường.
- Với cha mẹ học sinh, chúng tôi đưa ra một biện pháp đó là dành một phần thời gian trong buổi họp phụ huynh đầu năm để cùng nhau chia sẻ vấn đề này.
Cách tiếp cận:
+ Trước khi họp phụ huynh, chúng tôi thống nhất với giáo viên đưa nội dung phối kết hợp giáo dục lòng nhân ái cho trẻ bên cạnh việc giáo dục, rèn luyện các nội dung kiến thức, kĩ năng, phẩm chất khác cho học sinh…
+ Chúng tôi cho học sinh cho các em học sinh lớp 4, 5 viết thư gửi bố mẹ với đề bài “Em có yêu thương bố mẹ mình không? Em mong muốn điều gì ở bố mẹ? Hãy viết một lá thư (lời nhắn) gửi bố mẹ để nói lên điều đó nhân dịp đầu năm học mới”.
Qua nhiều năm kinh nghiệm làm giáo viên chủ nhiệm, tôi biết lá thư của các em rất chân thật, lột tả được thực trạng điều mà chúng tôi muốn biết.
Trong những lá thư các em viết, các em mong bố mẹ ít xem điện thoại, ti vi, bớt làm việc… để có thời gian chơi với con; mong bố mẹ đừng chửi con là đồ “bỏ đi”, đồ “vô tích sự”,… khi con không được điểm cao; mong bố mẹ không đối xử thiên vị giữa các anh chị em trong gia đình; mong bố mẹ đừng quát mắng chúng con mà hãy lắng nghe để hiểu con hơn…
- Khi phụ huynh đọc lá thư xong, bên cạnh việc nói về những điều tốt đẹp trong thư như lòng biết ơn, lời hứa… giáo viên sẽ tiếp cận vấn đề giáo dục năng lực, phẩm chất cho con. Kể những câu chuyện để thấy được hậu quả của việc đối xử không công bằng trong gia đình, của việc sử dụng bạo lực trong giáo dục trẻ có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành tính cách của con trẻ.Giáo viên nói về tình trạng bạo lực học đường, lối sống ích kỷ của học sinh… và lối sống đó gây hại cho trẻ như thế nào trong cuộc sống của mình: Bị bạn bè ghét bỏ, không vui, không cảm thấy hạnh phúc, khó khăn trong việc hoà nhập với cộng đồng đôi khi dẫn đến sự cô lập, tự kỉ …
Nhiều phụ huynh chia sẻ sau khi đọc những lá thư, những lời nhắn gửi của con: “Rất xúc động khi đọc thư của con và cảm thấy có lỗi với con.”
“Chúng tôi chỉ chú trọng đến việc con học kiến thức mà coi nhẹ vấn đề giáo dục đạo đức cho con.”
“Chúng tôi không nghĩ được xa hơn là các con sẽ bị ảnh hưởng như thế nào khi sống trong một tập thể mà không biết sẻ chia, không có tinh thần đoàn kết, tương trợ”,…
Giáo viên giới thiệu cho phụ huynh xem chương trình “Cha mẹ đã thay đổi” để cha mẹ rút ra được những bài học trong việc giáo dục con cái.
Với cách tiếp cận này, phụ huynh và cả giáo viên đều được tác động 1 cách tự nhiên, giúp họ nâng cao nhận thức của mình về việc cần thiết phải giáo dục đạo đức cho trẻ; sự cần thiết phải đối xử công bằng giữa các con trong gia đình, giữa học sinh trong lớp; phải biết lắng nghe và giải quyết thỏa đáng những vấn đề bế tắc, bức xúc cho trẻ và việc ý thức phải làm gương cho trẻ để trẻ noi theo mà sống tốt hơn.
2. Giải pháp 2: Giúp giáo viên tìm ra cách tiếp cận hiệu quả nhằm giáo dục, bồi dưỡng lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết cho học sinh.
2.1. Tăng cường sự giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong các hoạt động học tập và rèn luyện của học sinh.
Bồi dưỡng lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết cho trẻ sẽ không hiệu quả nếu như chúng ta chỉ dừng lại ở các bài giảng đạo đức hay thông qua các tiết học có nội dung liên quan. Bởi đó là cách giáo dục nặng về lý thuyết, giáo điều không phù hợp với tâm lý lứa tuổi học sinh tiểu học.
Lòng nhân ái phải được hình thành 1 cách rất tự nhiên thông qua những hoạt động nhân ái, những hành vi ứng xử nhân văn hàng ngày.Với học sinh thì thông qua các hoạt động giúp đỡ nhau trong sinh hoạt hàng ngày trên lớp, trong lao động , học tập, vui chơi,... Giáo viên cần có sự phân công một cách có dụng ý để vừa đạt được hiệu quả công việc, vừa kết hợp giáo dục bồi dưỡng lòng nhân ái cho học sinh.
Ví dụ:
- Trong học tập, giáo viên xây dựng phong trào “Đôi bạn cùng tiến”, “Cùng giúp bạn tiến bộ”…và tổ chức cho học sinh tự nguyện xung phong nhận giúp đỡ các bạn chậm tiến học thuộc các bảng cửu chương, luyện kỹ năng đọc, luyện viết, làm tính,…trong các giờ truy bài đầu giờ, trong các hoạt động học trên lớp,…
Hàng ngày, hằng tuần đánh giá biểu dương sự tiến bộ của các bạn được giúp đỡ, khen ngợi các bạn có tinh thần đoàn kết hỗ trợ, ghi công, tặng cờ để khích lệ phong trào và cũng để học sinh cả lớp nhận thức được ý nghĩa của việc làm tốt và khi làm việc tốt sẽ luôn được mọi người yêu quý, khen ngợi.
- Trong lao động, vệ sinh: Giáo viên chia các công việc vệ sinh thành các công việc nhỏ: quét lớp, lau bảng, quét sân, chăm sóc cây,… và nêu ra những khó khăn trong từng nội dung công việc để kêu gọi sự chia sẻ, giúp đỡ của học sinh. Học sinh tự nguyện, xung phong đảm nhận phần việc phù hợp với khả năng, sức khỏe của mình, tự nguyện giúp đỡ những bạn yếu hơn hoàn thành nhiệm vụ.
Trong quá trình theo dõi học sinh lao động, khi cần đảm bảo thời gian hoặc phát sinh khối lượng công việc lớn hơn, giáo viên kêu gọi sự giúp đỡ, hỗ trợ của nhóm học sinh có công việc nhẹ hơn và đã hoàn thành công việc của nhóm mình. Sau mỗi buổi lao động, giáo viên đều chú trọng vào việc biểu dương, khen ngợi tinh thần đoàn kết, giúp đỡ của học sinh để các em thấy được ý nghĩa của việc mình đã làm mà thêm hứng khởi, tích cực tham gia vào các hoạt động tương trợ lẫn nhau.
Giáo viên chú trọng vào việc kêu gọi tinh thần đoàn kết, hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau trong mọi hoạt động có thể dù là nhỏ nhất và biểu dương, khen ngợi những hành vi đẹp thường diễn ra trong lớp học như: cho bạn mượn bút, thước kẻ, bút chì, cho bạn học chung sách, che chung ô, chung áo mưa, động viên an ủi khi bạn buồn, chúc mừng chia vui với bạn khi bạn có chuyện vui, chăm sóc bạn khi ốm đau ở lớp,… Đó chính là cách bồi đắp lòng nhân ái đơn giản mà rất hiệu quả giúp hình thành nên nhân cách cho học sinh mỗi ngày.
2.2. Bồi dưỡng lòng nhân ái thông qua việc tư vấn, giải quyết thỏa đáng những xung đột trong học sinh.
Hàng ngày, chúng ta chứng kiến rất nhiều những hành vi chưa đúng, mang tính bạo lực của học sinh. Nhưng đa số, giáo viên chỉ chú ý vào những vụ đánh nhau để xảy ra những hậu quả, những vụ bạo lực gây chấn động dư luận mà thường bỏ qua, gạt đi những tranh cãi, những mâu thuẫn nhỏ giữa học sinh trong lớp do áp lực về công việc và quỹ thời gian hạn hẹp. Nhưng chính những mâu thuẫn nhỏ, âm thầm đó lại là mầm mống tạo ra những cơn sóng ngầm, làm nảy sinh những mâu thuẫn, xung đột lớn hơn hoặc tạo ra sự chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ và hình thành những tính xấu như lòng sân hận, sự ganh ghét, đố kị ... Đó là điều rất nguy hại, ảnh hưởng lớn đến việc hình thành nhân cách của trẻ.
Vì vậy, khi đã nhận thức được vấn đề đó, giáo viên sẽ lưu tâm vào giải quyết những mâu thuẫn dù nhỏ, uốn nắn cách cư xử chưa đúng, chưa phù hợp của học sinh trong lớp một cách tự nhiên và có chủ đích nhằm bồi dưỡng lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, yêu thương cho các em.
Ví dụ:
- Với việc dùng từ ngữ làm tổn thương bạn như: “Bạn ấy dốt nhất lớp đấy ạ!”, “Bạn ấy viết xấu, bẩn nhất lớp ạ!”, “Bạn ấy hay ăn cắp lắm ạ!”, “Nhà bạn ấy nghèo lắm ạ!”,… giáo viên cần đưa ra những tình huống để học sinh đặt vị trí của mình vào vai của người bạn bị chê bai, nói xấu để các em có thể cảm nhận được cảm xúc của bạn ấy khi bị người khác nói về mình như thế. Từ đó, học sinh sẽ rút kinh nghiệm và không sử dụng những lời nói mang tính bạo lực làm tổn thương người khác như thế nữa. Sau đó, giáo viên cùng học sinh tìm ra cách ứng xử, cách giải quyết giúp đỡ bạn tiến bộ, khắc phục những hạn chế thay vì chê bai, xa lánh và làm bạn tổn thương.
- Với những hành vi bạo lực lớn hơn: cãi nhau, đánh bạn, vẩy mực, xé vứt đồ của bạn…, giáo viên cũng cần lắng nghe các em trình bày nguyên nhân, đồng cảm và chia sẻ cảm xúc với mỗi em. Từ đó, giáo viên phân tích để các em hiểu cái sai của mỗi người, giúp các em và nhận lỗi, hòa giải với bạn, bỏ qua và chơi với nhau một cách thoải mái nhất. Việc phân tích để giúp các em nhìn nhận cái sai một cách thỏa đáng sẽ giúp các em giải tỏa được những bức xúc, ấm ức trong lòng mà vui vẻ hòa giải và định hướng cho các em cách giải quyết vấn đề gây mâu thuẫn trong những hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống.
2.3. Giáo dục lòng nhân ái thông qua việc tổ chức các hoạt động nhân đạo, thiện nguyện.
Mỗi năm nhận học sinh, giáo viên đều phải tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của từng em, phát hiện học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cần sự quan tâm giúp đỡ về vật chất hay tinh thần. Từ đó, giáo viên sẽ có kế hoạch tổ chức các hoạt động thiết thực vừa giúp đỡ được các em, vừa bồi dưỡng được lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau cho học sinh của lớp.
Ví dụ: Ngay từ đầu năm học, giáo viên phát động phong trào “Cùng bạn đến trường”, quyên góp sách vở, đồ dùng học tập, …giúp đỡ bạn khó. Những ngày lễ tết( Tết Trung thu, Tết Nguyên Đán) phát động phong trào “Cùng vui hội trăng rằm”, “ Nuôi heo béo cùng đón Tết yêu thương”.
Việc trao tặng quà cũng cần được giáo viên tổ chức thân mật, ấm áp tình bạn bè để các em không bị mặc cảm mà vui vẻ đón nhận sự quan tâm của thầy cô và bạn bè. Các bạn HS cũng cảm thấy hạnh phúc, vui vì mang đến niềm vui cho bạn.
2.4. Nêu gương sáng về lòng nhân ái.
Trong các hoạt động thiện nguyện, hay trong các cách ứng xử hàng ngày với mọi người, giáo viên phải luôn có ý thức nêu gương về lòng nhân ái. Bởi học sinh tiểu học có đặc điểm tâm lý rất thiên về cảm xúc. Các em sẽ cảm thấy ngưỡng mộ, tự hào về cô giáo của mình và thích học tập làm theo. Ngược lại, các em sẽ vô cùng thất vọng, mất lòng tin và không nghe theo nếu thầy cô làm ngược với lời thầy cô nói. Nghiêm trọng hơn, các em cũng sẽ bắt chước và làm theo cách ứng xử của cô. Vì vậy noi gương là một trong những biện pháp vô cùng hiệu quả trong việc giáo dục học sinh nói chung và giáo dục lòng nhân ái nói riêng.
3. Giải pháp 3: Giáo dục lòng nhân ái thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Nhiệm vụ của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong mỗi cơ sở giáo dục là giáo dục phẩm chất, bồi dưỡng nhân cách, kĩ năng sống… cho học sinh thông qua các hoạt động sinh hoạt tập thể và một trong những mục tiêu chính của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là bồi dưỡng lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết yêu thương cho học sinh.
Vì vậy, nhiệm vụ của ban hoạt động ngoài giờ lên lớp là lồng ghép các hoạt động giáo dục có chủ đích nhằm bồi dưỡng lòng nhân ái cho học sinh trong tất cả các hoạt động phù hợp trong năm học và được thể hiện rõ trong kế hoạch ngoài giờ lên lớp của liên đội.
3.1. Hoạt động giúp đỡ học sinh lớp 1 của các anh chị lớp 4, 5.
Các em học sinh lớp 1 còn bỡ ngỡ, lạ lẫm với môi trường mới, những hoạt động mới khi chuyển từ mầm non lên bậc tiểu học. Vì vậy, trong các tuần đầu tiên, liên đội đã tổ chức cho các anh chị lớp 4, 5 xuống nhận giúp đỡ các em làm quen với môi trường mới với các hoạt động sau:
- Các anh chị lớp 4, 5 dẫn các em đi thăm quan trường mới, hướng dẫn vui chơi an toàn, những nơi cần chú ý để giữ an toàn khi sinh hoạt;dạy các em làm theo những quy định chung của trường mới như: bảo vệ bồn hoa, cây cảnh, vườn rau, vườn cây ăn quả, giữ gìn vệ sinh trường lớp, chăm sóc bồn hoa của lớp,…
- Các anh chị hướng dẫn kĩ năng sinh hoạt ở khu vệ sinh, kĩ năng giữ vệ sinh thân thể, rửa tay,…
- Các anh chị tổ chức cho các em chơi các trò chơi dân gian, tập bài tập thể dục tập thể.
- Các anh chị đón các em vào trường trong ngày Hội khai trường.
- Trong các buổi chào cờ đầu tuần đều thấy bong dáng của các anh chị lớp trong Ban Nề nếp đến để giúp các em thực hiện các nội quy của giờ sinh hoạt tập thể.
3.2. Giáo dục lòng nhân ái thông qua các chương trình giao lưu, giáo dục kĩ năng sống.
Ví dụ:
- Trong chương trình giáo dục về an toàn giao thông, chúng tôi lồng ghép các hoạt động để các anh chị lớp lớn giúp đỡ các em lớp 1, 2 như sắm vai tình huống anh chị dẫn em nhỏ qua đường; nhắc nhở các em tham gia giao thông an toàn; hướng dẫn các em cách đội mũ bảo hiểm.
- Chương trình giáo dục kĩ năng phòng chống cháy nổ, lồng ghép giáo dục lòng nhân ái thông qua các tình huống sắm vai: anh chị hướng dẫn các em nhỏ thoát nạn trong đám cháy, anh chị nhắc nhở các em cách sử dụng các thiết bị điện sinh hoạt an toàn và hướng dẫn các em thực hành các kĩ năng phòng cháy chữa cháy đơn giản khác…
- Trong lễ kết nạp Đội, liên đội tổ chức cho anh chị khối 4, 5 trao khăn quàng và hướng dẫn các em lớp 3 đeo khăn quàng, cách chào cờ theo nghi thức Đội và nhắc nhở các em ý thức của một Đội viên.
3.3. Tổ chức các hoạt động thiện nguyện để học sinh có điều kiện tham gia.
- Phong trào “Cùng bạn đến trường”: Cứ vào đầu mỗi năm học, liên đội phát động phong trào “Cùng bạn đến trường”, kêu gọi tất cả các bạn học sinh quyên góp ủng hộ sách vở, đồ dùng học tập… tặng cho các bạn có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn, tạo điều kiện về vật chất và tinh thần giúp bạn vui vẻ đến trường.
- Phong trào “Áo ấm vùng cao” được tổ chức thường niên vào mỗi dịp đầu đông luôn nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của học sinh. Có hàng trăm bộ quần áo, khăn mũ, sách vở, tép khô, đỗ lạc,… được đóng gói cẩn thận chuyển lên cho các bạn học sinh trường tiểu học vùng cao khó khăn.
- Phong trào “Nuôi heo béo, cùng đón Tết yêu thương”: Phong trào được tổ chức vào mỗi dịp Tết đến xuân về và được phát động trong toàn liên đội. Những món quà tết từ phong trào được trao gửi cho các bạn học sinh đã trở thành một nét văn hóa đẹp của trường. Thông qua đó bồi dưỡng lòng nhân ái cho các em một cách hiệu quả.
- Xây dựng “Tủ đồ dùng chung”: Với phương châm “ Ai có thì bỏ vào, ai cần thì đến lấy”, tủ đồ dùng chung đã thu hút được sự quan tâm, chú ý, hưởng ứng của các bạn học sinh. Mỗi năm có hàng trăm bộ quần áo, giày dép, cặp sách được các bạn học sinh quyên góp. Nhiều bạn học sinh đã rất vui khi tìm được những đồ dùng cần thiết cho mình.
3.4. Trong sinh hoạt khu bán trú.
Chúng tôi sắp xếp các anh chị học sinh lớp 4, 5 ở cùng phòng với các em lớp 1, 2, 3 để các anh chị hướng dẫn các em sinh hoạt nền nếp theo nội quy của bán trú, thực hành các kĩ năng như:kĩ năng rửa tay trước khi ăn, kĩ năng vệ sinh phòng ăn, phòng ngủ, cách phân loại thức ăn và khay bát…
Với cách sắp xếp như thế, các anh chị học sinh lớp lớn đã nhận thức được ý thức, trách nhiệm của người làm anh, làm chị và thể hiện được sự quan tâm, yêu thương giúp đỡ các em nhỏ. Các em nhỏ cảm nhận được tình cảm của các anh chị lớp lớn mà thêm yêu quý, vâng lời, nghe theo sự hướng dẫn, chỉ bảo của anhchị. Rất nhiều hành vi đẹp đã được ghi nhận tại khu sinh hoạt bán trú tại trường như: các anh chị đọc truyện cho các em nghe trước giờ ngủ, sắp xếp chỗ ngủ hợp lý cho các em, nhắc nhở các em khi các em mắc lỗi, tổ chức trò chơi, đố vui, ôn bài cho các em sau giờ ăn, thậm chí bắt chấy rận cho các em…
IV. HIỆU QUẢ DO CÁC GIẢI PHÁP MANG LẠI
Cuối năm học, chúng tôi phát phiếu hỏi cho 100 học sinh đã trả lời phiếu trong dịp đầu năm. Kết quả thu được rất khả quan:
PHIẾU ĐIỀU TRA HÀNH VI BẠO LỰC DÀNH CHO HỌC SINH
Câu 1: Em đánh dấu X vào cột tương ứng với mỗi dòng trong bảng sau:
* Kết quả:
STT |
Hành vi |
Em đã bị (được) ai đối xử |
Em đã từng ứng xử với bạn |
||||||
Bố, mẹ |
Cô giáo |
Bạn bè |
|||||||
SL |
TL |
SL |
TL |
SL |
TL |
SL |
TL |
||
1 |
Chê bai, chế giễu bằng các từ ngữ: xấu, dốt, ngu, đố lười, đồ bỏ đi, vô tích sự,… |
5 |
|
2 |
|
5 |
|
4 |
|
2 |
Nói xấu, lôi kéo các bạn khác không cho chơi cùng. |
|
|
|
|
2 |
|
2 |
|
3 |
Quát mắng, chửi bới, cãi nhau… |
10 |
|
3 |
|
3 |
|
2 |
|
4 |
Xé sách vở, quăng đồ, vẩy mực vào sách vở, quần áo… |
2 |
|
|
|
|
|
8 |
|
5 |
Trấn lột, bắt nạt, đe doạ |
|
|
|
|
1 |
|
|
|
6 |
Đánh nhau, rủ bạn đánh hội đồng |
|
|
|
|
2 |
|
2 |
|
7 |
Đối xử không công bằng |
3 |
|
3 |
|
|
|
2 |
|
8 |
Không lắng nghe, không dành thời gian quan tâm |
5 |
|
3 |
|
5 |
|
|
|
9 |
Ghen tỵ, đố kị với mình (với bạn giỏi hơn) |
|
|
|
|
2 |
|
3 |
|
Từ kết quả điều tra trên phiếu, qua quan sát thực tế, chúng tôi đánh giá hiệu quả của sáng kiến như sau:
- Giảm bớt gánh nặng kinh tế trong việc mua sắm sách vở, quần áo, tư trang, đồ dùng học tập cho các gia đình học sinh có hoàn cảnh khó khăn trong các dịp đầu năm học, lễ tết.
- Các hoạt động giáo dục lòng nhân ái không gây lãng phí, tốn kém, không cần kinh phí cho việc tổ chức.
- Mỗi năm, các phong trào thiện nguyện huy động sự đóng góp của xã hội , của phụ huynh học sinh hàng trăm sách vở, đồ dùng, quần áo,… cho HS nghèo và học sinh vùng cao khó khăn.
2. Hiệu quả xã hội
- Phụ huynh, giáo viên nhận thức đúng về việc cần thiết phải quan tâm đến việc giáo dục, bồi dưỡng lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, sẵn sàng tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau cho học sinh, giúp các em hoàn thiện nhân cách, giảm bạo lực học đường, sống yêu thương và được mọi người yêu thương. Từ đó, giáo viên và cha mẹ học sinh có ý thức điều chỉnh hành vi, cách ứng xử với trẻ và tìm ra những biện pháp giáo dục phù hợp.
- Các anh chị học sinh khối lớp lớn tự cảm thấy vai trò, trách nhiệm của mình trong việc yêu thương, giúp đỡ các em lớp nhỏ và thấy được ý nghĩa tốt đẹp từ việc làm của mình mà cảm thấy vui vẻ, hứng thú, tích cực làm nhiều điều tốt. Các em cảm thấy vui khi được khen ngợi về những việc mình làm dần từ bỏ những hành vi xấu, lên án những hành vi bạo lực, những cách ứng xử không văn hóa, không được mọi người chấp nhận và luôn luôn có ý thức bảo vệ các em.
- Các em nhỏ cảm nhận được sự yêu thương, được quan tâm giúp đỡ nên rất yêu quý các anh chị, ngưỡng mộ mà noi theo. Tất cả những điều đó đều có ảnh hưởng tích cực đến việc hình thành bồi dưỡng lòng nhân ái ở các em một cách rất tự nhiên, không gượng ép, giáo điều. Nó trở thành ý thức đúng, hành vi đẹp và dần hình thành lối sống đẹp trong các em.
- Hiện tượng đánh chửi, bắt nạt, mâu thuẫn trong học sinh giảm rõ rệt. Môi trường lớp học, trường học đoàn kết, thân thiện. Đặc biệt ở những lớp lớn, không còn những hành vi, lời nói chê bai, thái độ kì thị, chia rẽ làm mất đoàn kết trong tập thể.
3. Khả năng áp dụng và nhân rộng
Những giải pháp giáo dục lòng nhân ái cho học sinh trong sáng kiến rất đơn giản, dễ thực hiện và không tốn kém tiền bạc. Vì vậy, được giáo viên áp dụng thực hiện hàng ngày, trong suốt quá trình dạy học mang lại hiệu quả giáo dục cao. Sáng kiến hoàn toàn có thể nhân rộng, vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo ở tất cả các lớp học, trường học các cấp.
Một số giải pháp dạy toán phép chia có dư ở tiểu học
02/04/2025 14:46
Một số giải pháp dạy toán phép chia có dư ở tiểu học
Lồng ghép một số trò chơi nhỏ trong bài dạy thể dục nhằm tạo hứng thú cho học sinh
01/04/2025 16:44
Lồng ghép một số trò chơi nhỏ trong bài dạy thể dục nhằm tạo hứng thú cho học sinh
Một số biện pháp xây dựng lớp học hạnh phúc tại lớp 5A4
31/03/2025 17:06
Một số biện pháp xây dựng lớp học hạnh phúc tại lớp 5A4
Một số giải pháp vận phương pháp nhóm giúp học sinh dân tộc thiểu số phát huy kĩ năng làm việc nhóm
30/03/2025 07:53
Một số giải pháp vận phương pháp nhóm giúp học sinh dân tộc thiểu số phát huy kĩ năng làm việc nhóm.
Một số giải pháp phát triển kỹ năng viết bài văn miêu tả cho học sinh lớp 5
30/03/2025 11:02
Một số giải pháp phát triển kỹ năng viết bài văn miêu tả cho học sinh lớp 5
Một số biện pháp phát huy tính tự chủ, tự giác, sáng tạo ở học sinh lớp 5
30/03/2025 20:22
Một số biện pháp phát huy tính tự chủ, tự giác, sáng tạo ở học sinh lớp 5
29/03/2025 14:32
Một số biện pháp dạy môn Lịch sử lớp 5 theo hướng phát triển năng lực giúp học sinh yêu thích môn học Lịch sử
Tổ chức một số trò chơi toán học nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh lớp 5
28/03/2025 07:26
Tổ chức một số trò chơi toán học nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh lớp 5